Chuyên trang chia sẽ những văn bản Pháp Luật cập nhật nhất

Quyết định 2921/QĐ-UBND 2022 Đề án Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo hộ cận nghèo Quảng Trị cập nhật 01/2023

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ------- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- Số: 2921/QĐ-UBND Quảng Trị, ngày 14 tháng 11 năm 2022   QUYẾT ĐỊNH PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN HỖ TRỢ NHÀ Ở CHO HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHÈO
Quyết định 2921/QĐ-UBND 2022 Đề án Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo hộ cận nghèo Quảng Trị cập nhật 11/2022

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 2921/QĐ-UBND

Quảng Trị, ngày
14 tháng 11 năm 2022

 

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ
DUYỆT ĐỀ ÁN HỖ TRỢ NHÀ Ở CHO HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHÈO
TỈNH QUẢNG TRỊ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG GIAI
ĐOẠN 2021-2025

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ
chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019;

Căn cứ Quyết định số
90/2022/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình
mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025;

Căn cứ Quyết định số
02/2022/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc,
tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của
ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2021-2025;

Căn cứ Quyết định số
353/QĐ-TTg ngày 15/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách huyện
nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn
2021-2025;

Căn cứ Thông tư số
01/2022/TT-BXD ngày 30/6/2022 của Bộ Xây dựng
hướng dẫn thực hiện hỗ trợ
nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo thuộc Chương
trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai
đoạn 2021-2025;

Căn cứ Nghị quyết số
23/2022/NQ-HĐND ngày 31/5/2022 của HĐND tỉnh Quảng Trị quy định nguyên tắc,
tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của
ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị;

Xét đề nghị của Chánh Văn
phòng UBND tỉnh và Giám đốc Sở Xây dựng tại Tờ trình số 2359/TTr-SXD ngày 27
tháng 10 năm 2022.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt kèm
theo Quyết định này Đề án Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn
huyện nghèo tỉnh Quảng Trị thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2021-2025.

Điều 2. Giao Sở Xây dựng
chủ trì, phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, UBND huyện Đakrông
và các sở, ban ngành liên quan tổ chức thực hiện các nội dung theo Đề án đã
được phê duyệt.

Điều 3. Quyết định này
có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám
đốc các sở: Xây dựng, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Lao động – Thương binh và
Xã hội; Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh; Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội
tỉnh; Bí thư Tỉnh đoàn; Chủ tịch UBND huyện Đakrông và các cơ quan, đơn vị liên
quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 


Nơi nhận:
– Như Điều 3;
– Các Bộ: Xây dựng, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư; Lao động – Thương binh và Xã
hội;
– Thường trực HĐND tỉnh;
– Ủy ban MTTQVN tỉnh;
– Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
– Các sở, ban ngành cấp tỉnh;
– Chánh VP, các PVP UBND tỉnh;
– Lưu: VT, KGVXT, THH.

TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

Hoàng Nam

 

ĐỀ ÁN

HỖ
TRỢ NHÀ Ở CHO HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHÈO TỈNH QUẢNG TRỊ
THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2021-2025
(Kèm theo Quyết định số 2921/QĐ-UBND ngày 14/11/2022 của UBND tỉnh Quảng Trị)

I. MỞ ĐẦU

1. Khái quát những đặc
điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh, sự ảnh
hưởng của thiên
tai đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

1.1. Khái quát tình hình
tỉnh Quảng Trị

Quảng Trị là một tỉnh thuộc
vùng duyên hải miền Trung, là nơi chuyển tiếp giữa hai miền Bắc – Nam. Ở phía
Bắc Quảng Trị giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế, phía
Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với đường biên giới dài khoảng 206
km; phía Đông là biển với chiều dài là 75 km. Dân số toàn tỉnh là 632.840
người, phân bố ở 10 huyện, thành phố, thị xã (gồm 125 xã, phường, thị trấn).
Tổng diện tích của toàn tỉnh là 474.577 ha (81% là diện tích đồi núi; 11,5% là
đồng bằng; 7,5% là bãi cát và cồn cát ven biển). Quảng Trị có địa hình lãnh thổ
rất đa dạng, dốc từ Tây sang Đông tạo thành 04 vùng địa lý tự nhiên: biển, đồng
bằng, trung du và miền núi.

Khí hậu ở Quảng Trị khá khắc
nghiệt, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng, thường có bão và mưa lớn, biến
động khí hậu mạnh. Lượng bức xạ cao: 70 – 80 kcalo/cm2/năm. Số giờ
nắng trung bình là 1.700 – 1.800 giờ/năm. Nhiệt độ trung bình 25,50C,
nhiệt độ cao nhất là 42,10C (24/4/1980), thấp nhất là 9,40C
(02/3/1986). Độ ẩm trung bình 84%, lượng bốc hơi trung bình là 1.290 mm, lượng
mưa trung bình nhiều năm của tỉnh khoảng 2.500 mm.

Hệ thống sông suối của tỉnh
ngắn, lòng sông hẹp, đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đổ ra biển, với mật độ
sông suối khá cao làm cho địa hình chia cắt mạnh, thảm phủ thực vật vùng đầu
nguồn bị tàn phá nặng nề. Đây là nguyên nhân chính gây ra những thay đổi phức
tạp của dòng chảy, mùa khô các khe suối ở đầu nguồn bị khô cạn nên triều xâm
nhập sâu vào đất liền từ 20 đến 25 km; về mùa mưa dòng chảy lũ tập trung nước
gần 90% diện tích lưu, gây lũ bị tàn phá nặng nề ở vùng đầu nguồn và dồn về gây
lũ lớn làm thiệt hại ở vùng đồng bằng.

Trong những năm qua, cùng với
những thành tựu chung về phát triển kinh tế – xã hội, việc xóa đói giảm nghèo
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã đạt được những kết quả đáng khích lệ , tỷ lệ hộ
nghèo giảm, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao.
Được sự hỗ trợ của Trung ương, Quảng Trị đã thực hiện chính sách quyết liệt
nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ về nhà ở cho đối tượng chính sách, hộ
nghèo theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ như: Hỗ trợ cho người có công
với cách mạng về nhà ở số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013; hỗ trợ hộ nghèo xây
dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28
tháng 8 năm 2014; hỗ trợ nhà ở với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn
2011-2015 số 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015…

Ngoài ra, tỉnh Quảng Trị đã
tích cực phát động phong trào xóa nhà ở dột nát cho hộ nghèo, gia đình chính
sách, huy động được sự tham gia của các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp và đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia ủng hộ, xây dựng hàng nghìn
căn nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết với kinh phí hàng chục tỷ đồng.

Tuy nhiên, Quảng Trị là tỉnh
thuộc diện nghèo của cả nước, hàng năm ngân sách Trung ương phải cân đối trên
60% (Nghị quyết số 153/NQ-HĐND ngày 09/12/2021 của Hội đồng nhân dân
tỉnh Về dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa
bàn, chi ngân sách địa
phương năm 2022)
. Vì vậy, tỉnh Quảng Trị rất cần được sự hỗ trợ từ Trung
ương đối với các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là các chương trình
hỗ trợ về nhà ở trong đó có Chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo
trên địa bàn huyện nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2021-2025.

Ngày 15/3/2022, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 353/QĐ-TTg phê duyệt danh sách huyện nghèo, xã
nghèo đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo giai đoạn
2015-2025, theo đó, huyện Đakrông là huyện duy nhất của tỉnh Quảng Trị trong
danh sách 74 huyện nghèo trên toàn quốc.

1.2. Khái quát tình hình
huyện Đakrông

Đakrông là huyện miền núi biên
giới, nằm phía Tây Nam Quảng Trị có tổng diện tích tự nhiên là 118.483ha. Diện
tích chủ yếu là đồi núi, đất canh tác ít, bị chia cắt bởi hệ thống sông, suối,
đồi núi, điều kiện thời tiết không thuận lợi, thường xuyên xảy ra lũ quét, lũ
ống. Dân số cuối năm 2021 là 48.914 người/11.565 hộ dân, trong đó gần 80% người
đồng bào dân tộc Vân Kiều – Pa Cô, sống phân tán, thu nhập thấp. Cơ sở vật chất
của địa phương còn hạn chế, mặt bằng dân trí thấp, vẫn còn những phong tục,
tập quán lạc hậu, khả năng tiếp cận, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
chưa được thực hiện.

Trong giai đoạn 2016 – 2020, tỷ
lệ hộ nghèo trong toàn huyện bình quân giảm 5,54%/năm; đến cuối năm 2020, tỷ lệ
hộ nghèo toàn huyện giảm xuống còn 28,75%. Huyện Đakrông có tỷ lệ hộ nghèo
chiếm tỷ lệ 49,17%, cận nghèo 7,74%, cao nhất tỉnh Quảng Trị và vẫn là huyện
nghèo giai đoạn 2021-2025.

2. Sự cần thiết phải lập
Đề án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn huyện nghèo tỉnh
Quảng Trị thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn
2021-2025

Phát triển kinh tế – xã hội,
giảm nghèo bền vững ở các huyện miền núi là nhiệm vụ chính trị quan trọng,
thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và mọi người dân, góp phần thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân.

Xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ
chính trị và là chính sách xã hội cơ bản mang tính nhân văn sâu sắc, là chương trình,
mục tiêu để thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong
thời gian qua, mặc dù Trung ương và tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho việc
cải thiện nhà ở cho người nghèo, nhưng thực tế số lượng hộ nghèo đang khó khăn
về nhà ở còn khá lớn, do tác động của kinh tế thị trường, thiên tai, dịch bệnh
nên ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân làm phát sinh thêm nhiều hộ
nghèo mới và phần lớn các hộ nghèo thuộc đối tượng nói trên đang gặp rất nhiều
khó khăn về nhà ở, cần có sự quan tâm hỗ trợ kịp thời.

Thống kê cho thấy, từ năm 2004
đến nay, toàn tỉnh Quảng Trị đã hỗ trợ xây dựng nhà ở cho trên 22.000 hộ nghèo
và các đối tượng khó khăn; xây mới và sửa chữa 12.835 nhà ở cho người có công
với cách mạng. Nhờ đó, nhà ở của nhiều hộ nghèo, hộ người có công đã được cải thiện,
tạo điều kiện ổn định đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế
gia đình và vươn lên thoát nghèo bền vững (Báo cáo số 379/BC-MTTQ-BTT ngày
09/8/2022 của Ban Thường trực – UBMTTQVN tỉnh Quảng Trị)
.

Đối với huyện Đakrông, do mức
hỗ trợ chung về xây dựng, sửa chữa nhà ở đối với hộ nghèo từ các chính sách của
nước cũng như từ các nguồn lực khác còn thấp (20 ÷ 40 triệu đồng/nhà), lại bị
thường xuyên ảnh hưởng bởi bão, lũ nên đa phần nhà ở của hộ nghèo có chất lượng
không cao, tuổi thọ ngắn. Mặc dù đã được hỗ trợ từ nhiều chương trình dự án,
nhưng thực tế còn rất nhiều hộ nghèo do điều kiện kinh tế khó khăn nên không có
nhà không có khả năng tự cải thiện nhà ở đảm bảo an toàn khi bão, lũ, sạt lỡ
núi xảy ra. Do đó, những hộ này đang ở trong những căn nhà đơn sơ, tạm bợ hoặc
chưa có nhà ở hoặc có nhà ở nhưng chưa đảm bảo an toàn. Theo kết quả rà soát
cuối năm 2021, toàn huyện có 2.318 hộ nghèo và hộ cận nghèo thiếu hụt về chất
lượng nhà ở và có 4.512 thiếu hụt về diện tích nhà ở.

Để góp phần giải quyết một cách
căn bản về phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại do bão, lụt gây ra cho người nghèo,
tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống an toàn, ổn định, bảo đảm an sinh xã
hội, phát triển kinh tế của địa phương, việc thực hiện Đề án hỗ trợ nhà ở cho
hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn huyện nghèo thuộc Chương trình mục tiêu
quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 của Thủ tướng Chính phủ đối
với huyện Đakrông là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
và giảm nghèo bền vững, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của địa phương hiện nay.

3. Các căn cứ pháp lý để
lập Đề án

– Nghị quyết số 24/2021/QH15
ngày 28 tháng 7 năm 2021 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình
mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025;

– Quyết định số 02/2022/QĐ-TTg
ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức
phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn
2021-2025;

– Quyết định số 353/QĐ-TTg ngày
15/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các huyện nghèo, xã đặc biệt
khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2021-2025;

– Quyết định số 90/2022/QĐ-TTg
ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc
gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025;

– Nghị định số 07/2021/NĐ-CP
ngày 27/01/2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025;

– Nghị định số 27/2022/NĐ-CP
ngày 19/4/2022 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các
Chương trình mục tiêu quốc gia;

– Thông tư số 01/2022/TT-BXD
ngày 30/6/2022 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo,
hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia
giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025;

– Thông tư số 46/2022/TT-BTC
ngày 28/7/2022 của Bộ Tài chính quy định quản lý, sử dụng và quyết toán kinh
phí sự nghiệp từ nguồn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu
quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 20212025;

– Nghị quyết số 70/NQ-HĐND ngày
18/10/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị thông qua Đề án huy động nguồn lực
hỗ trợ xây mới nhà ở cho hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn
2022-2026;

– Nghị quyết số 71/NQ-HĐND ngày
18/10/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị về việc thông qua Chương trình phát
triển nhà ở tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2021-2030, định hướng đến năm 2045;

– Nghị quyết số 23/2022/NQ-HĐND
ngày 31/5/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định nguyên tắc, tiêu chí, định
mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa
phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị;

– Quyết định số 543/QĐ-UBND
ngày 17/02/2022 của UBND tỉnh Quảng Trị về việc Phê duyệt kết quả rà soát hộ
nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn
tỉnh Quảng Trị;

– Quyết định của UBND tỉnh số 1707/QĐ-UBND
ngày 30/6/2022 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc
gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025;

– Báo cáo số 180/BC-UBND ngày 03/6/2022
của UBND huyện Đakrông Báo cáo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo
chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 phát sinh năm 2022 trên địa bàn huyện
Đakrông;

– Đề án số 197/ĐA-UBND-MTTQ
ngày 06/10/2022 của UBND tỉnh Quảng Trị và UBMTTQVN tỉnh Quảng Trị về huy động
nguồn lực thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị, giai đoạn 2022-2026 (Đề án 197).

– Quyết định số 2662/QĐ-UBND
ngày 27/10/2022 của UBND huyện Đakrông về việc phê duyệt danh sách hộ nghèo, hộ
cận nghèo có nhu cầu hỗ trợ nhà ở tại các xã, thị trấn thuộc Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.

II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHÀ
Ở ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN

1. Nhận xét, đánh giá thực
trạng nhà ở đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo
trên địa bàn

1.1. Đối với toàn tỉnh

a) Về hộ nghèo, hộ cận nghèo

Theo kết quả rà soát cuối năm
2021, toàn tỉnh có 179.218 hộ dân với 713.403 nhân khẩu, trong đó, hộ nghèo có
18.717 hộ chiếm tỷ lệ 10,44%, hộ cận nghèo có 9.984 hộ chiếm tỷ lệ 5,57%[1].

b) Thiếu hụt về chất lượng và
diện tích nhà ở

– Tổng số hộ nghèo: 18.717,
trong đó:

+ Số lượng thiết hụt về diện
tích nhà ở: 10.728 (chiếm 57,32%);

+ Số lượng thiếu hụt về chất
lượng nhà ở: 5.913 (chiếm 31,59 %).

– Tổng số hộ cận nghèo: 9.984
trong đó:

+ Số lượng thiết hụt về diện
tích nhà ở: 1.453 (chiếm 14,55%);

+ Số lượng thiếu hụt về chất
lượng nhà ở: 505 (chiếm 5,06%).

1.2. Đối với huyện Đakrông

a) Về hộ nghèo, hộ cận nghèo

Theo kết quả rà soát cuối năm
2021, toàn huyện có 11.565 hộ dân với 48.914 nhân khẩu, trong đó, hộ nghèo có
5.687 hộ chiếm tỷ lệ 49,17%, hộ cận nghèo có 895 hộ chiếm tỷ lệ 7,74%[2]. Trong 6 tháng đầu năm
2022, số hộ nghèo tăng 26 hộ, chiếm 0,23% hộ cận nghèo tăng 04 hộ, chiếm 0,03%.

Như vậy, tính đến thời điểm
hiện tại, toàn huyện có tổng số hộ nghèo là: 5.713. chiếm 49,4%; Số hộ cận
nghèo là: 899 hộ, chiếm tỷ lệ 7,77%[3].

b) Thiếu hụt về chất lượng và
diện tích nhà ở

Theo Báo cáo số 422/BC-UBND
ngày 06/12/2021 của UBND huyện Đakrông về Báo cáo kết quả chính thức tổng rà
soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2021 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn
2021-2025:

– Tổng số hộ nghèo: 5.687,
trong đó:

+ Số lượng thiết hụt về diện
tích nhà ở: 4.187 (chiếm 73,62%);

+ Số lượng thiếu hụt về chất
lượng nhà ở: 2.256 (chiếm 39,67%)

– Tổng số hộ cận nghèo: 895,
trong đó:

+ Số lượng thiết hụt về diện
tích nhà ở: 325 (chiếm 36,31%);

+ Số lượng thiếu hụt về chất
lượng nhà ở: 62 (chiếm 6,93%).

1.3. Đánh giá về chất
lượng nhà ở

Qua khảo sát thực trạng của các
hộ nghèo, hộ cận nghèo thiết hụt về nhà ở trên địa bàn tỉnh là chưa có nhà ở
ổn định hoặc có nhà ở nhưng nhà ở tạm bợ, thiếu kiên cố, nhà có cả 3 thành phần
cấu thành chủ yếu không được xếp vào loại bền chắc hoặc xây dựng bằng các vật liệu
tạm thời có tuổi thọ ngắn, dễ cháy, không đảm bảo ‘‘3 cứng’’ (nền cứng, khung
cứng, mái cứng), có nguy cơ sụp đổ nhưng không có khả năng tự cải thiện nhà ở;
diện tích nhỏ hẹp, thời gian sử dụng ngắn, thường xuyên hư hỏng, thấm dột,
không đảm bảo chất lượng sử dụng, có nhiều hộ nhà ở hư hỏng nặng, phải chống
đỡ sử dụng tạm thời dẫn đến không an toàn khi xảy ra thiên tai. Tuy nhiên, do
điều kiện khó khăn về kinh tế nên chưa có điều kiện để xây dựng, sửa chữa, nâng
cấp nhà ở hiện có.

2. Đánh giá tác động của
các yếu tố khí hậu đối với nhà ở về đảm bảo an toàn khi xảy ra bão, tố, lốc
trên địa bàn tỉnh, địa phương

Quảng Trị là một tỉnh ven biển
thuộc vùng duyên hải miền Trung, có chiều dài bãi biển 75km, thuộc phạm vi
chuyển tiếp khí hậu giữa hai miền Nam – Bắc, do vậy năm nào tỉnh Quảng Trị cũng
phải hứng chịu rất nhiều cơn bão, áp thấp nhiệt đới, giông tố, lốc xoáy cục
bộ, những trận mưa to kéo dài, để lại hậu quả rất nặng nề cho nhân dân cả về
tinh thần lẫn vật chất. Ngoài ra, tỉnh Quảng Trị là vùng gồm cả địa hình đồng
bằng trung du và đồi núi do đó ảnh hưởng của vấn đề thời tiết đến sự phát triển
kinh tế – xã hội càng thể hiện rõ nét.

Với điều kiện tự nhiên, khí hậu
và điều kiện địa hình như vậy, có thể thấy việc đảm bảo an toàn cho nhân dân,
đặc biệt là các hộ nghèo, các đối tượng dễ bị tổn thương khi xảy ra bão, tố,
lốc là rất cấp bách và cần thiết đặc biệt đối với huyện nghèo miền núi như
huyện Đakrông. Thực trạng hiện nay cho thấy, đa số các hộ nghèo trên toàn tỉnh
nói chung và huyện Đakrông nói riêng thuộc các vùng sâu, vùng xa, vùng bãi
ngang ven biển, vùng thường xuyên bị thiên tai, bão tố. Nhà ở các hộ nghèo này
đã xuống cấp, không đảm bảo an toàn khi xảy ra bão, tố, lốc. Hiện tại họ hoàn
toàn không chủ động được trong việc tự xây dựng nhà ở mới, sửa chữa, nâng cấp
nhà ở hiện có để đảm bảo an toàn, ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế.

Đối với huyện Đakrông, do đặc
điểm địa hình là miền núi cao, do đó thường xuyên xảy ra tình trạng mưa, lũ đầu
nguồn ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân. Trong 20 năm trở lại đây điều kiện
thời tiết diễn biến phức tạp, có lúc rét đậm rét hại, mưa lũ hoặc hạn hán kéo dài,
giá cả hàng hóa tăng cao… ảnh hưởng tới đời sống của nhân dân, nhất là những hộ
nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Điển hình năm 2020, tại huyện Đakrông,
tuyến đường 588 bị ngập sâu, chia cắt nhiều điểm ở các xã Triệu Nguyên, Ba
Lòng, Mò Ó. Đường vào trung tâm xã A Vao (Cầu Tràn Tà rụt – A Vao), Ba Nang
cũng bị chia cắt nhiều vị trí như cầu Đá đỏ, Ra Lây, Tà Rẹc. Mưa lũ gây ngập
lụt nặng nhất ở xã Ba Lòng và Triệu Nguyên, có khoảng 150 nhà dân ngập hoàn
toàn. Mực nước ở các đập thủy điện trên địa bàn huyện cũng đã vượt ngưỡng tràn
từ 1,8-4m. Một số tuyến đường liên thôn A Bung (xã A Bung) – thôn A Rồng trên
xã A Ngo; đường nội thôn Gia Giã (xã Hướng Hiệp), Húc Nghì (xã Húc Nghì), thôn
Ly Tôn (xã Tà Long) bị chia cắt do các tràn và ngầm tràn mực nước ngập sâu 1 –
2m. Tuyến đường Hồ Chí Minh (Km 17,23 trên đường Quốc lộ 9) nhiều điểm sạt lở
với khối lượng lớn, đặc biệt điểm sạt lở Km 50+150 gây tắc đường…

Việc mưa lũ, ngập lụt khiến
người dân bị mất đi nơi ở an toàn cụ thể nhà cửa bị cuốn trôi, phá hủy không
đảm bảo điều kiện ổn định đời sống. Cụ thể qua các năm vừa qua tình trạng nhà
cửa của người dân trên địa bàn huyện Đakrông bị ảnh hưởng bởi tỉnh trạng mưa lũ
theo thống kê khoảng 1.710 hộ[4]. Do đó, người dân rất cần có một ngôi nhà ổn định đảm bảo chất
lượng để có thể chống chịu được thiên tai, đặc biệt đối với các hộ nghèo, cận
nghèo khi điều kiện kinh tế khá khó khăn, khả năng tự xây dựng căn nhà kiên cố
khá hạn chế, nên qua các thời kỳ bão lũ thì tình trạng chất lượng nhà xuống
cấp, không đảm bảo điều kiện để ở hoặc không còn nhà để ở thường xuyên xảy ra.

3. Nhận xét, đánh giá
chung về thực hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo, hộ cận
nghèo đã và đang thực hiện tại địa phương

Những năm qua, được sự quan tâm
tích cực của Đảng, nhà nước, các Bộ, ngành liên quan cũng như địa phương trong
việc hỗ trợ ổn định cuộc sống cho các hộ nghèo bằng việc thực hiện các chính
sách hỗ trợ: Quyết định số 135/1998/QĐ- TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính
phủ về việc Phê duyệt chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt
khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa; Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về chương
trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo do Chính phủ
ban hành. Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ ban hành và triển khai một số chính
sách hỗ trợ về nhà ở cụ thể như Chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với người có
công với cách mạng tại Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013; hỗ trợ hộ
nghèo xây dựng nhà ở phòng tránh bão, lụt khu vực miền Trung tại Quyết định số
48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014, hỗ trợ nhà ở với hộ nghèo theo chuẩn giai đoạn 2011-2015
tại Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015.

Cùng với đó là việc cụ thể hóa
các chủ trương, chính sách từ Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII, Nghị quyết về
phát triển miền Tây của tỉnh đã được thông qua và triển khai thực hiện. Nghị
quyết về chính sách hỗ trợ đất ở và kinh phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ở, đất sản xuất cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã
khu vực III, thôn, bản đặc biệt khó khăn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2019-2022.
Trên cơ sở đó, ngày 16/10/2020 HĐND tỉnh khóa XVII đã ban hành Nghị quyết số 01-/NQ/ĐH
đã đề cập đến phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu 5 năm
2020-2025; trong đó: tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2025 là 75% và
đến năm 2030 là 85%; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm giai đoạn 2020-2025
và giai đoạn 2025-2030 từ 1-1,5%. Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh cũng đã mở rộng
cuộc vận động Ngày vì người nghèo từ năm 2001.

Trong 9 tháng đầu năm 2022, Ban
vận động Quỹ “Vì người nghèo”, Ban vận động Quỹ cứu trợ các cấp trong tỉnh, các
tổ chức đoàn thể cấp tỉnh đã vận động và hỗ trợ xây dựng mới 478 nhà Đại đoàn
kết cho hộ nghèo, cận nghèo, trị giá 31.352 triệu đồng; hỗ trợ sửa chữa 148 nhà
ở hộ nghèo, cận nghèo, trị giá 2.535 triệu đồng[5].

Việc triển khai các chương
trình, đề án, kế hoạch hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn đạt
được những kết quả như sau:

3.1. Tình hình thực hiện
trên địa bàn toàn tỉnh

a) Chương trình hỗ trợ về nhà ở
đối với người có công với cách mạng

– Thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg
ngày 26/04/2013 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết
định: số 2840/QĐ-UBND ngày 03/09/2013; số 315/QĐ-UBND ngày 16/02/2016 về việc
điều chỉnh, bổ sung Đề án hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà trên địa
bàn tỉnh Quảng Trị: Tổng số hộ gia đình có công cách mạng cần hỗ trợ về nhà ở
năm 2013 và bổ sung thêm trong năm 2016 là 9.746 hộ, trong đó: Hỗ trợ xây mới
là 2.106 hộ; Hỗ trợ về cải tạo, sửa chữa: 7.640 hộ. Tổng kinh phí đề nghị hỗ
trợ là 225.140 triệu đồng.

– Mức hỗ trợ: Ngân sách nhà
nước hỗ trợ 40 triệu đồng/hộ (xây mới); 20 triệu đồng/hộ (sửa chữa nhà ở).

– Kết quả thực hiện: Tổng kết
chương trình (đến ngày 31/12/2019), số hộ đã hoàn thành hỗ trợ từ nguồn ngân
sách là 8.097 hộ (trong đó: xây mới là 1.693 hộ; cải tạo, sửa chữa là 6.404
hộ). Số hộ được hỗ trợ từ nguồn vận động khác là 606 hộ. Tổng số thuộc đề án đã
hoàn thành việc hỗ trợ là 8.703 hộ. Tỷ lệ thực hiện đề án 89,41%.

Kết quả giải ngân số kinh phí
được ngân sách Trung ương cấp cho cả hai giai đoạn là 195,78/225,14 tỷ đồng,
đạt tỷ lệ 86,96%.

b) Chương trình hỗ trợ nhà ở
đối với Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015

Thực hiện Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg
ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ nhà ở với hộ nghèo
theo chuẩn giai đoạn 2011- 2015, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết định: số
115/QĐ-UBND ngày 18/01/2016; số 2101/QĐ-UBND ngày 05/09/2016 về việc điều
chỉnh, bổ sung hành Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn giai đoạn
2011-2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Theo đó, có 2.712 hộ cần được hỗ trợ xây
dựng nhà ở mới, sửa chữa nâng cấp nhà với tổng kinh phí dự kiến là 195,768 tỷ
đồng (Giai đoạn lập Đề án tổng số hộ nghèo toàn tỉnh đến tháng 10/2015 là
11.679 hộ, chiếm 6,92% tổng số hộ toàn tỉnh, số hộ nghèo có nhu cầu hỗ trợ về
nhà ở khoảng 23% số hộ nghèo và cận nghèo).

Sau khi thực hiện ra soát lại
Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số
350/QĐ-UBND ngày 10/2/2020 về việc điều chỉnh Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ
nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, số hộ nghèo có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở 1.572
hộ, dự kiến tổng kinh phí 113,184 tỷ đồng.

– Mức hỗ trợ:

+ Vốn vay tín dụng ưu đãi: 25
triệu đồng/hộ;

+ Dự kiến vốn huy động thông
qua Quỹ “Vì người nghèo” do Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam phát
động từ các doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vận động;
nguồn Quỹ “Vì người nghèo” do Ban vận động Quỹ “Vì người nghèo” các cấp trên
địa bàn tỉnh huy động và nguồn lực do các đoàn thể chính trị – xã hội, tổ chức
xã hội trên địa bàn tỉnh vận động để hỗ trợ”: 34 triệu đồng/hộ;

+ Dự kiến huy động của cộng
đồng; dòng họ và của chính hộ gia đình được hỗ trợ: 10 triệu đồng/hộ;

+ Các nguồn vốn khác (bao gồm
cả ngân sách địa phương): 03 triệu đồng/hộ.

– Kết quả thực hiện: Tổng kết
chương trình, số hộ đã hoàn thành việc hỗ trợ là 649 hộ; thực hiện giải ngân
25,290 tỷ đồng bao gồm nhiều nguồn vốn. Số hộ nghèo có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở
còn lại là 966 hộ.

– Qua tình hình thực hiện nhận
thấy:

Nguồn lực ngân sách nhà nước
cấp cho Đề án khá hạn chế (hỗ trợ lãi vay tối đa 25 triệu đồng/hộ) trong khi
khả năng huy động từ các nguồn xã hội hóa cũng như khả năng tự đóng góp hoặc
huy động người thân hỗ trợ cũng khó khăn.

c) Chương trình hỗ trợ hộ nghèo
xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung

– Thực hiện Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg
ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết
định: số 335/QĐ-UBND ngày 12/02/2015 về việc ban hành Đề án hỗ trợ hộ nghèo xây
dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (3.291 hộ), số
2527/QĐ-UBND ngày 17/10/2016 về việc điều chỉnh, bổ sung đối tượng hộ nghèo
được hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị (3.016 hộ) và Quyết định số 1146/QĐ-UBND ngày 17/5/2019 về điều chỉnh
Đề án hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị (2.084 hộ). Mức hỗ trợ: Ngân sách nhà nước hỗ trợ 12-14 triệu đồng/hộ
(theo khu vực khó khăn).

– Mức hỗ trợ:

+ Ngân sách Trung ương hỗ trợ:
12 ÷ 16 triệu đồng/hộ.

+ Vốn vay ưu đãi: 15 triệu
đồng/hộ.

+ Các nguồn vốn hợp pháp khác:
3 triệu đồng/hộ.

+ Dự kiến vốn huy động của cộng
đồng, dòng họ và của chính hộ gia đình được hỗ trợ: 6 ÷ 10 triệu đồng/hộ.

– Kết quả thực hiện: Kết quả
thực hiện Chương trình, toàn tỉnh hoàn thành việc hỗ trợ đối với 1.953 hộ (đạt
tỷ lệ thực hiện 93,71%), thực hiện giải ngân 56,963 tỷ đồng.

d) Hỗ trợ về nhà ở từ nguồn xã
hội hóa

– Thông qua nhiều chương trình
tình nghĩa, trong 10 năm (từ 2012-2022), toàn tỉnh đã vận động được trên 102 tỷ
đồng vào Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”. Nguồn quỹ này đã góp phần hỗ trợ xây dựng, sửa
chữa 1.973 căn nhà; trong đó xây mới 1.557 căn, sửa chữa 416 căn.

– Trong 9 tháng đầu năm 2022,
Ban vận động Quỹ “Vì người nghèo” đã vận động và hỗ trợ xây mới 478 nhà Đại
đoàn kết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, trị giá 31.352 triệu đồng; hỗ trợ sửa chữa
148 nhà ở hộ nghèo, hộ cận nghèo, trị giá 2.535 triệu đồng[6].

Nhờ đó, một số bộ phận nghèo đã
được cải thiện về nhà ở cũng như đời sống, có điều kiện phát triển kinh tế. Tuy
nhiên, hiện vẫn còn tồn tại một số lượng lớn hộ nghèo chưa được hỗ trợ nhà ở từ
chương trình, chính sách nói trên, chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá
tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện
nhà ở, cộng với việc phát sinh một số hộ nghèo mới cũng như tái nghèo dẫn đến
ảnh hưởng lớn tới mục tiêu giảm nghèo của tỉnh.

3.2. Tình hình thực hiện
trên địa bàn huyện Đakrông

a) Chương trình hỗ trợ về nhà ở
đối với người có công với cách mạng (Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg
ngày 26/04/2013 của Thủ tướng Chính phủ)

– Theo các Quyết định của UBND
tỉnh: số 2840/QĐ-UBND ngày 03/09/2013; số 315/QĐ-UBND ngày 16/02/2016 về việc
điều chỉnh, bổ sung Đề án hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà trên địa
bàn tỉnh Quảng Trị, tổng số hộ gia đình có công cách mạng cần hỗ trợ về nhà ở
năm 2013 và bổ sung thêm trong năm 2016 trên địa bàn huyện Đakrông là 494 hộ
(trong đó: xây mới là 256 hộ; cải tạo, sửa chữa là 186 hộ).

– Kết quả triển khai thực hiện:
Tính đến ngày 31/12/2019, số hộ đã hoàn thành hỗ trợ từ nguồn ngân sách trên
địa bàn huyện Đakrông là 494 hộ (trong đó: xây mới là 256 hộ; cải tạo, sửa chữa
là 186 hộ). Số hộ được hỗ trợ từ nguồn vận động khác là 52 hộ. Tổng số thuộc đề
án đã hoàn thành việc hỗ trợ là 494 hộ. Tỷ lệ thực hiện đề án 100%. Tỷ lệ giải
ngân nguồn vốn 13.840 triệu đồng, đạt tỷ lệ 88,47%[7].

b) Chương trình hỗ trợ nhà ở
đối với Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo (Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg
ngày 10/8/2015 của Thủ tướng)

– Theo các Quyết định của UBND
tỉnh: số 115/QĐ-UBND ngày 18/01/2016; số 2101/QĐ-UBND ngày 05/09/2016, số
350/QĐ-UBND ngày 10/2/2020 về việc điều chỉnh Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ
nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, số hộ nghèo có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở trên
địa bàn huyện Đakrông 61 hộ, dự kiến tổng kinh phí 4,392 tỷ đồng.

– Tình hình triển khai thực
hiện: Kết thúc Chương trình số hộ đã hoàn thành việc hỗ trợ là 55 hộ; thực hiện
giải ngân 1,45 tỷ đồng.

c) Chương trình hỗ trợ hộ nghèo
xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung (Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg
ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ).

– Theo các Quyết định của UBND
tỉnh: số 335/QĐ-UBND ngày 12/02/2015; số 2527 QĐ-UBND ngày 17/10/2016, số 1146/QĐ-UBND
ngày 17/5/2019 về điều chỉnh Đề án hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh
bão, lụt trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, số hộ thuộc danh sách bao gồm nhiều nguồn
vốn: 218 hộ.

– Tình hình triển khai thực
hiện: Đến cuối năm 2019, UBND huyện Đakrông đã hoàn thành việc hỗ trợ đối với
218 hộ (đạt tỷ lệ thực hiện 100%), thực hiện giải ngân 4,888 triệu đồng[8].

d) Hỗ trợ về nhà ở từ nguồn xã
hội hóa

– Trong năm 2021, Ủy ban MTTQVN
huyện đã hỗ trợ xây dựng 25 nhà trị giá 40-50 triệu đồng/nhà với tổng kinh phí 1.210
triệu đồng; sửa chữa 01 nhà 29,250 triệu đồng. Ủy ban MTTQVN tỉnh đã hỗ trợ xây
dựng 48 nhà trị giá 40-50 triệu đồng/nhà với tổng kinh phí 2.390 triệu đồng
(trong đó có 09 nhà với tổng trị giá 450 triệu đồng từ nguồn hỗ trợ của nghệ sỹ
Hoài Linh).

– Phòng LĐ-TB&XH huyện đã
tham mưu UBND huyện trích kinh phí từ Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” huyện hỗ trợ sửa
chữa cho 03 nhà hộ nghèo có thành viên hưởng chính sách người có công với cách
mạng với tổng kinh phí 80 triệu đồng.

3.3. Đánh giá kết quả
thực hiện

a) Về ưu điểm

– Có những cơ chế, chính sách
phù hợp, sát với thực tế; các thủ tục đơn giản, dễ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo
công khai, minh bạch và dân chủ.

– Chương trình nhận được sự
quan tâm của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Mặt trận TQVN và các tổ
chức thành viên cũng như các doanh nghiệp trong cả nước đã tích cực vận động,
trực tiếp ủng hộ, giúp đỡ các hộ nghèo xây dựng nhà ở, đồng thời tham gia giám
sát việc thực hiện.

– Được các cấp ủy đảng, chính
quyền, các tổ chức chính trị xã hội địa phương từ cấp tỉnh đến thôn, xã quan
tâm, chỉ đạo, triển khai quyết liệt, có hiệu quả, có cách làm sáng tạo.

– Bước đầu đã giúp đỡ một số hộ
nghèo có nhà ở khang trang hơn, an toàn hơn, từ đó, đời sống vật chất, tinh thần
của các hộ nghèo đã tốt hơn, ổn định hơn, vì vậy họ yên tâm tập trung lao động
sản xuất, phát triển kinh tế, nhiều hộ đã thoát nghèo, tạo lòng tin cho nhân
dân về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước, đồng thời góp phần ổn định
trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.

– Thông qua việc thực hiện các
chính sách nói trên đã phát huy tính dân chủ, công khai cơ sở, tính cộng đồng,
khơi dậy tinh thần tương thân, tương ái, đùm bọc người nghèo, biết ơn người có
công; xây dựng tình cảm gắn bó, đoàn kết anh em, dòng họ trong cộng đồng dân
cư; góp phần cũng cố khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện mục tiêu đảm bảo
an sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

b) Về các hạn chế, tồn tại

– Trong thời gian qua, mặc dù
địa phương đã huy động nhiều nguồn lực để tổ chức xây dựng nhà đại đoàn kết, hỗ
trợ kinh phí cho các hộ nghèo cải tạo sửa chữa nhà ở hư hỏng, tạm bợ, dột nát
cũng như hỗ trợ xây dựng mới nhà ở. Tuy nhiên, tỷ lệ nhà ở được xây dựng cho
các hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn chưa đáp ứng được nhu cầu, do thực tế nguồn
lực còn hạn chế bao gồm nguồn hỗ trợ từ trung ương, địa phương, từ các tổ chức
chính trị xã hội cũng như nguồn huy động của bản thân các hộ gia đình và trong
cộng đồng.

– Công tác bình xét đối tượng
vẫn có nơi làm chưa tốt, dẫn đến một số đối tượng không đủ tiêu chuẩn bị loại
ra khỏi danh sách hoặc bỏ sót đối tượng phải làm bổ sung, điều đó gây khó khăn
cho việc tổng hợp, lập kế hoạch, tiến độ thực hiện và xác định số vốn cần hỗ
trợ.

– Mức hỗ trợ về xây dựng, cải
tạo nhà ở từ nguồn ngân sách và nguồn xã hội hóa còn thấp, chưa tạo được động
lực cho người dân tham gia chương trình. Với mức hỗ trợ thấp thì diện tích và
chất lượng nhà cũng khá hạn chế do khó đáp ứng được vấn đề kinh phí thực hiện.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, việc bố trí nguồn vốn vẫn chưa đồng bộ,
nhiều khi có vốn ngân sách hỗ trợ thì thiếu vốn vay hoặc ngược lại.

– Việc kiểm tra, đôn đốc thực
hiện tại một số địa phương chưa được thường xuyên, chưa quyết liệt, chưa sâu
sát; chưa tổ chức tốt việc hướng dẫn, giúp đỡ các hộ nghèo tự xây dựng nhà ở.

– Công tác tuyên truyền phổ
biến chính sách, bình xét ở địa phương mất quá nhiều thời gian. Vì vậy mà khi
triển khai xây dựng thời rơi vào mùa mưa lũ gây khó khăn cho việc đẩy nhanh
tiến độ.

– Việc huy động các hộ dân được
hỗ trợ đóng góp thêm để xây dựng gặp nhiều khó khăn vì hầu hết các hộ này còn thiếu
thốn quá nhiều về vật chất do thu nhập bình quân đầu người thấp, việc làm không
ổn định, biến động giá cả, điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu.

III. ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG THỨC
HUY ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ NGUỒN LỰC CỦA ĐỊA PHƯƠNG ĐÃ THỰC HIỆN NHẰM HỖ TRỢ NHÀ Ở ĐỐI
VỚI HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO

1. Về phương thức huy động
nguồn lực

Trong thời gian qua để thực
hiện chính sách giảm nghèo và hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo không có điều kiện
cải thiện nhà ở, tỉnh đã tập trung huy động từ các nguồn lực:

1.1. Ngân sách nhà nước giữ vai
trò dẫn dắt, tạo động lực, đồng thời huy động tối đa các nguồn lực xã hội thực
hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững; bố trí vốn đối ứng từ ngân sách địa phương
hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế và tăng cường các nguồn huy động, đóng
góp hợp pháp của doanh nghiệp, nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước; vốn đối ứng, tham gia, đóng góp của người dân, đối tượng thụ hưởng.

1.2. Bảo đảm cân đối, bố trí,
huy động đầy đủ, kịp thời theo đúng cơ cấu nguồn vốn đã được quyết định; bảo
đảm tỷ lệ vốn đối ứng của địa phương và trách nhiệm tham gia thực hiện Chương
trình của người dân, đối tượng thụ hưởng.

1.3. Lồng ghép nguồn lực thực
hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, việc thực hiện các chính sách giảm
nghèo nói chung và các chính sách giảm nghèo đặc thù với các dự án, nội dung
thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn các
huyện nghèo.

2. Về quản lý nguồn lực của
địa phương trong quá trình thực hiện hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo, hộ cận
nghèo

UBND tỉnh chịu trách nhiệm trực
tiếp và toàn diện trong quản lý nguồn lực, giao cho Cơ quan thường trực phối
hợp với các cơ quan chức năng cấp tỉnh chỉ đạo, tổ chức thực hiện; giao nhiệm
vụ cho các chính quyền cấp huyện, xã quản lý nguồn lực của địa phương, triển
khai đến từng thôn, bản, từng hộ gia đình được hỗ trợ.

Ban vận động Quỹ “Vì người
nghèo” thành lập theo Quyết định của Ủy ban MTTQVN tỉnh Quảng Trị ở từng cấp
(tỉnh, huyện, xã) và quản lý nguồn quỹ được vận động theo quy chế quản lý, sử
dụng do trung ương, tỉnh hướng dẫn.

3. Về thực hiện việc quản lý
sử dụng, cấp phát, thanh toán nguồn vốn cấp, vay tín dụng ưu đãi cũng như
các nguồn vốn huy động khác

– UBND tỉnh căn cứ nguồn vốn
ngân sách TW hỗ trợ, ngân sách địa phương bố trí và nguồn huy động đóng góp
khác, quyết định phân bổ cho UBND cấp huyện, UBND cấp huyện phân bổ cho UBND
cấp xã, UBND cấp xã cấp kinh phí hỗ trợ cho hộ nghèo để thực hiện chương trình.

– Việc quản lý và sử dụng vốn
được thực hiện công khai, minh bạch, người dân được tham gia vào quá trình thực
hiện cũng như giám sát thực hiện nên đồng vốn được sử dụng có hiệu quả và đã
huy động được nhiều nguồn lực trong nhân dân.

– Đối với nguồn vốn hỗ trợ của
các doanh nghiệp, nhà hảo tâm, các tổ chức này tự quản lý và phân bổ nguồn vốn,
quy trình giải ngân cũng tương tự các Chương trình hỗ trợ của Chính phủ và luôn
đảm bảo tiến độ cũng như kinh phí giải ngân từng đợt trong quá trình hỗ trợ xây
dựng.

4. Về cách thức hỗ trợ

Chi tiền hỗ trợ trực tiếp cho
các hộ dân để người dân tự thực hiện dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám
sát của UBND cấp xã; đối với các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo
đơn, tàn tật…) không thể tự xây dựng thì UBND cấp xã chỉ đạo Đoàn thanh niên và
các đoàn thể khác của địa phương tổ chức xây dựng sau đó bàn giao nhà cho các
hộ này.

5. Đánh giá chung về việc
thực hiện huy động và quản lý nguồn lực của địa phương trong quá trình thực
hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo đã thực
hiện trong thời gian qua

Trong quá trình triển khai thực
hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, nhìn chung mô hình huy động và quản lý nguồn lực
của địa phương đã phát huy được hiệu quả tích cực; thể hiện được vai trò của
các cơ quan quản lý nhà nước và được người dân đồng tình ủng hộ.

– Về huy động nguồn lực: Đã huy
động được nguồn lực lớn để thực hiện chương trình dựa trên nguyên tắc “Nhà nước
hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, hộ gia đình tham gia đóng góp để xây dựng nhà ở” tạo
điều kiện để người dân nâng cao tính chủ động, tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào
sự hỗ trợ của nhà nước.

– Về quản lý nguồn lực: Việc
thành lập các Ban chỉ đạo từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã đã tạo ra sự thống nhất
trong quản lý, tổ chức triển khai thực hiện chương trình, phát huy tối đa hiệu
quả các nguồn lực.

– Về quản lý tài chính: Công
tác thu, chi các nguồn quỹ đúng mục đích, đúng đối tượng và đảm bảo đúng quy
chế hướng dẫn của trung ương và các văn bản của UBND tỉnh đã ban hành.

IV. MỘT SỐ NỘI DUNG CỤ THỂ
CỦA ĐỀ ÁN

1. Mục tiêu, nguyên tắc hỗ
trợ

1.1. Mục tiêu

– Mục tiêu tổng quát: Hỗ trợ
cho hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn huyện Đakrông có nhà ở ổn định, an toàn,
có khả năng chống chịu tác động của thiên tai, góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống và giảm nghèo bền vững, thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu
quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định số 90/QĐ-TTg
ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ.

– Mục tiêu cụ thể: Thực hiện
hỗ trợ xây dựng, nâng cấp nhà ở cho khoảng 911 hộ gia đình thuộc đối
tượng quy định tại Đề án đảm bảo có nhà ở.

1.2. Nguyên tắc hỗ trợ

– Hỗ trợ đến từng hộ gia đình;
bảo đảm dân chủ, công khai, công bằng và minh bạch trên cơ sở pháp luật và
chính sách của Nhà nước; phù hợp với phong tục tập quán của mỗi dân tộc, vùng,
miền, bảo tồn bản sắc văn hóa của từng dân tộc; phù hợp với điều kiện thực tiễn
và gắn với quy hoạch vùng huyện, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của từng
địa phương; góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.

– Huy động từ nhiều nguồn vốn
để thực hiện, kết hợp giữa nhà nước và nhân dân cùng làm. Mỗi hộ gia đình chỉ
được hỗ trợ một lần từ nguồn vốn của Đề án, theo nguyên tắc: Nhà nước hỗ trợ
trực tiếp đến từng hộ gia đình để xây dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở, cộng đồng
giúp đỡ, hộ gia đình có trách nhiệm đóng góp và tự tổ chức xây dựng, sửa chữa
nhà ở.

– Hộ gia đình được hỗ trợ nhà ở
(bao gồm xây dựng mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở) được cấp có thẩm quyền lập
danh sách (kèm theo Đề án); được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về
đất đai (nếu có yêu cầu).

2. Yêu cầu về diện tích và
chất lượng nhà ở

2.1. Về diện tích

Sau khi được hỗ trợ xây mới
hoặc sửa chữa, nhà ở phải đảm bảo diện tích sử dụng tối thiểu 30m2,
phấn đấu đạt diện tích tối thiểu 10m2 sàn/người.

2.2. Về chất lượng công trình

Nhà ở phải có tuổi thọ công
trình từ 20 năm trở lên; đảm bảo an toàn khi xảy ra bão, tố, lốc; đảm bảo tiêu
chuẩn “3 cứng” (nền – móng cứng, khung – tường cứng, mái cứng); Các bộ phận nền
– móng, khung – tường, mái của căn nhà phải được làm từ các loại vật liệu có
chất lượng tốt, không làm từ các loại vật liệu tạm, mau hỏng, dễ cháy. Cụ thể:

a) “Nền – móng cứng” là nền –
móng nhà làm bằng các loại vật liệu có tác dụng làm tăng độ cứng của nền như:
vữa xi măng – cát, bê tông, bê tông cốt thép, xây gạch/đá, gạch lát, gỗ;

b) “Khung – tường cứng” bao gồm
hệ thống khung, cột, tường. Tùy điều kiện cụ thể, khung, cột được làm từ các
loại vật liệu: bê tông cốt thép, sắt, thép, gỗ bền chắc; tường xây gạch/đá hoặc
làm từ gỗ bền chắc;

c) “Mái cứng” gồm hệ thống đỡ
mái và mái lợp. Tùy điều kiện cụ thể, hệ thống đỡ mái có thể làm từ các loại
vật liệu: bê tông cốt thép, sắt, thép, gỗ bền chắc. Mái làm bằng bê tông cốt
thép, lợp ngói. Trường hợp mái bằng tôn lợp giả ngói, tôn lạnh, tôn cách nhiệt,
tôn cán sóng và có kết cấu đỡ chắc chắn (khung sắt, gỗ…) liên kết bền chặt
với tường xây, cột bê tông cốt thép thì mái tôn trong trường hợp này được coi
là vật liệu bền chắc.

Tùy điều kiện thực tế, các bộ
phận nhà ở có thể làm bằng các loại vật liệu có chất lượng tương đương có sẵn
tại địa phương đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đảm bảo thời hạn sử
dụng.

3. Đối tượng được hỗ trợ nhà

3.1. Đối tượng

– Hộ nghèo, hộ cận nghèo (theo
chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025) trong danh sách hộ nghèo, hộ cận
nghèo do UBND cấp xã quản lý, đang cư trú trên địa bàn huyện nghèo và là hộ độc
lập có thời gian tách hộ đến khi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2021-2025 có hiệu lực thi hành tối thiểu 03 năm;

– Đối tượng thụ hưởng hỗ trợ nhà
ở không bao gồm các hộ đã được hỗ trợ nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc
gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai
đoạn 2021-2030 và các chương trình, đề án, chính sách khác.

3.2. Tiêu chí được hỗ trợ
nhà ở

Hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ
trợ nhà ở thuộc một trong các trường hợp sau:

– Chưa có nhà ở hoặc nhà ở
thuộc loại không bền chắc (trong ba kết cấu chính là nền – móng, khung – tường,
mái thì có ít nhất hai kết cấu được làm bằng vật liệu không bền chắc).

– Diện tích nhà ở bình quân đầu
người của hộ nghèo, hộ cận nghèo nhỏ hơn 8m2.

– Chưa được hỗ trợ nhà ở từ các
chương trình, đề án, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã
hội hoặc tổ chức xã hội khác.

4. Phạm vi áp dụng

Các xã thuộc huyện Đakrông,
tỉnh Quảng Trị.

5. Xác định số lượng hộ
nghèo, hộ cận nghèo cần hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở trên địa bàn
huyện Đakrông

Tổng số hộ nghèo, hộ cần nghèo
cần hỗ trợ về nhà ở: 911 hộ[9]
(Theo danh sách đính kèm Đề án):

5.1. Tổng số hộ nghèo thuộc
diện đối tượng được hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở (tính đến thời điểm
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 có hiệu
lực thi hành): 773 hộ. Trong đó: xây mới 520 hộ, cải tạo sửa chữa
253 hộ.

5.2. Tổng số hộ cận nghèo thuộc
diện đối tượng được hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở (tính đến thời điểm
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 có hiệu
lực thi hành): 138 hộ. Trong đó: xây mới 69 hộ, cải tạo sửa chữa 69
hộ.

6. Phân loại đối tượng ưu
tiên

6.1. Hộ nghèo dân tộc thiểu số:
866 hộ.

6.2. Hộ nghèo có thành viên là
người có công với cách mạng: 01 hộ.

6.3. Hộ nghèo, hộ cận nghèo có
thành viên thuộc đối tượng bảo trợ xã hội: 04 hộ.

6.4. Hộ nghèo, hộ cận nghèo có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (người cao tuổi, neo đơn, khuyết tật): 04 hộ.

6.5. Hộ nghèo, hộ cận nghèo
thuộc vùng thường xuyên xảy ra thiên tai: 20 hộ.

6.6. Các hộ nghèo, hộ cận nghèo
còn lại: 16 hộ.

7. Nguồn vốn thực hiện

7.1. Ngân sách trung ương bổ
sung có mục tiêu thực hiện Dự án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên
địa bàn các huyện nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2021-2025.

(Thực hiện theo Thông tư số 01/2022/TT-BXD
ngày 30/6/2022 của Bộ Xây dựng, mức kinh phí hỗ trợ từ ngân sách trung ương 40
triệu đồng/hộ đối với hình thức xây dựng mới và 20 triệu đồng/hộ đối với hình
thức sửa chữa).

7.2. Ngân sách địa phương bố
trí vốn đối ứng theo tỷ lệ quy định.

(Thực hiện theo Quyết định số 02/2022/QĐ-TTg
ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 23/2022/NQ-HĐND ngày
31/5/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh, ngân sách địa phương đối ứng 10% so với
ngân sách trung ương hỗ trợ).

7.3. Các nguồn vốn hợp pháp
khác (huy động từ cộng đồng, dòng họ và chính bản thân hộ gia đình được hỗ trợ).

– Nguồn huy động, đóng góp của
các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư.

(Thực hiện lồng ghép nguồn vốn
theo Đề án 197 – Huy động nguồn lực thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ
nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2022-2026 và các nguồn huy động
khác).

– Nguồn nội lực của các hộ gia
đình và các nguồn lực hợp pháp khác.

8. Xác định tổng số vốn
thực hiện và phân khai nguồn vốn thực hiện

8.1. Căn cứ xác định tổng
số vốn

– Suất vốn đầu tư do Bộ Xây
dựng ban hành tại Quyết định số 610/QĐ-BXD ngày 13/7/2022: 4.594.000
đồng/01m2.

– Quyết định số 06/2021/QĐ-UBND
ngày 19/3/2021 của UBND tỉnh Quảng Trị về ban hành Bảng đơn giá xây dựng nhà,
vật kiến trúc và đơn giá các loại cây, hoa màu trên địa bàn tỉnh Quảng Trị:
loại nhà tương đương nhóm C2, C3, đơn giá 4.212.000 ÷ 4.744.000đồng/01m2.

– Tham khảo các mẫu thiết kế
nhà ở đã được Sở Xây dựng thẩm định tại Văn bản thẩm định số 1338/SXD-QLXD ngày
04/8/2021 (gồm 05 mẫu nhà). Diện tích từ 30 ÷ 54,6m2 và dự toán xây
dựng dự kiến từ 149 ÷ 223 triệu đồng/căn: bình quân 4.397.000 đồng/01m2.

Căn cứ vào cách xác định tổng
số vốn đầu tư nêu trên, xác định để hoàn thành xây dựng mới 01 căn nhà có diện
tích tối thiểu 30m2 cần có số kinh phí dự kiến là: 30m2
x 4.397.000 đồng = 131.910.000 đồng
. Kinh phí sửa chữa dự kiến 40
triệu
đồng/01 căn.

8.2. Tổng số vốn cần thực
hiện

Tổng số căn nhà cần hỗ trợ xây
mới 589 căn. Tổng số căn nhà cần hỗ trợ sửa chữa cải tạo 322 căn.

Tổng số vốn cần có để thực
hiện: 90.574,99 triệu đồng.

– Vốn ngân sách Trung ương: 30.000
triệu đồng.

– Vốn ngân sách địa phương: 3.000
triệu đồng.

– Các nguồn vốn hợp pháp khác
(huy động từ cộng đồng, dòng họ và chính bản thân hộ gia đình được hỗ trợ): 57.574,99
triệu đồng.

a) Tổng số vốn vốn để thực hiện
hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo là 78.713,2 triệu đồng, trong đó:

– Vốn ngân sách Trung ương: 25.860,0
triệu đồng.

– Vốn ngân sách tỉnh: 2.586,0
triệu đồng.

– Vốn huy động khác (huy từ
cộng đồng, dòng họ và chính bản thân hộ gia đình được hỗ trợ): 50.267,2 triệu
đồng.

b) Tổng số vốn vốn để thực hiện
hỗ trợ nhà ở cho hộ cận nghèo là 11.861,79 triệu đồng, trong đó:

– Vốn ngân sách Trung ương: 4.140,0
triệu đồng.

– Vốn ngân sách địa phương: 414,0
triệu đồng.

– Vốn huy động khác (huy từ
cộng đồng, dòng họ và chính bản thân hộ gia đình được hỗ trợ): 7.307,79 triệu
đồng.

(Có Phụ lục kèm theo).

9. Cách thức thực hiện

9.1. Bình xét và phê duyệt
danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ nhà ở theo giai đoạn 2021-2025

Các thôn tổ chức bình xét đối
tượng và phân loại ưu tiên hỗ trợ cho các đối tượng theo thứ tự sau đây: Hộ
nghèo dân tộc thiểu số; Hộ nghèo có thành viên là người có công với cách mạng;
Hộ nghèo, hộ cận nghèo có thành viên thuộc đối tượng bảo trợ xã hội; Hộ nghèo,
hộ cận nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (người cao tuổi, neo đơn, khuyết
tật); Hộ nghèo, hộ cận nghèo thuộc vùng thường xuyên xảy ra thiên tai; Các hộ
nghèo, hộ cận nghèo còn lại. Đảm bảo dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch.
Trên cơ sở danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu hỗ trợ xây mới hoặc sửa
chữa nhà ở, tổ chức bình xét, đề xuất danh sách các hộ nghèo, hộ cận nghèo được
hỗ trợ về nhà ở (theo mẫu tại Phụ lục I kèm theo Thông tư số 01/2022/TT-BXD
ngày 30/6/2022 của Bộ Xây dựng)
gửi về Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ VN cấp
xã để xem xét, rà soát. Cuộc họp bao gồm Ban chỉ đạo rà soát hộ nghèo, hộ cận
nghèo cấp xã, công chức được giao nhiệm vụ làm công tác giảm nghèo cấp xã,
Trưởng thôn (chủ trì họp), Bí thư Chi bộ thôn, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông
dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và đại diện của
các hộ nghèo, hộ cận nghèo trong thôn; mời đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp xã giám sát.

Đối với các hộ nghèo, hộ cận
nghèo có cùng mức độ ưu tiên, việc hỗ trợ được thực hiện theo thứ tự sau: Hộ
nghèo, hộ cận nghèo có nhà ở hư hỏng, dột nát (làm bằng các vật liệu nhanh
hỏng, chất lượng thấp) có nguy cơ sập đổ, không đảm bảo an toàn; Hộ nghèo, hộ
cận nghèo chưa có nhà ở (là hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có nhà ở riêng, hiện
đang ở cùng bố mẹ nhưng đã tách hộ, ở nhờ nhà của người khác, thuê nhà ở – trừ
trường hợp được thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước); Hộ nghèo, hộ cận nghèo có
đông nhân khẩu.

UBND cấp xã xem xét, rà soát
lại, thẩm định danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo thuộc diện được hỗ trợ xây dựng
nhà ở trình UBND huyện Đakrông tổng hợp, phê duyệt, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh để làm cơ sở lập và phê duyệt Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo
thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025
trên địa bàn.

9.2. Cấp vốn ngân sách
Trung ương hỗ trợ làm nhà ở

UBND huyện Đakrông tổng hợp gửi
danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo thuộc diện được hỗ trợ xây dựng nhà ở cho UBND
tỉnh để được cấp vốn.

Việc quản lý, cấp phát, thanh
toán, quyết toán nguồn vốn thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Đối với vốn huy động từ Quỹ “Vì
người nghèo” và các đóng góp tự nguyện khác trên địa bàn, Mặt trận TQVN các cấp
phối hợp với UBND cùng cấp hỗ trợ cho các hộ thuộc diện đối tượng.

9.3. Thực hiện xây dựng nhà ở

– Hộ gia đình trong danh sách
được hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở ký cam kết xây mới hoặc sửa chữa nhà ở
và đăng ký với UBND cấp xã đề nghị cung ứng vật liệu để xây mới hoặc sửa chữa
nhà ở (nếu có nhu cầu), đề xuất lựa chọn mẫu nhà, phương thức xây mới hoặc sửa
chữa nhà ở.

– Đối với hộ gia đình có thành
viên thuộc đối tượng bảo trợ xã hội và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (người
cao tuổi, neo đơn, khuyết tật) không có khả năng tự xây mới hoặc sửa chữa nhà ở
thì UBND cấp xã phối hợp Mặt trận Tổ quốc xã và các tổ chức thành viên của Mặt
trận để thống nhất phân công các đoàn thể, các cơ quan, đơn vị đóng trên địa
bàn tổ chức xây mới hoặc sửa chữa nhà ở cho các đối tượng này.

– Hộ gia đình được hỗ trợ xây
mới hoặc sửa chữa nhà ở phải báo cáo UBND cấp xã khi hoàn thành các phần việc
theo giai đoạn (hoàn thành phần móng đối với những hộ xây dựng nhà ở mới, hoàn
thành từ 30% khối lượng công việc trở lên đối với những hộ sửa chữa nhà ở hiện
có) hoặc hoàn thành toàn bộ công trình để tổ chức nghiệm thu làm cơ sở thực
hiện giải ngân vốn hỗ trợ.

– UBND cấp xã có trách nhiệm
theo dõi, hướng dẫn, giám sát và giúp đỡ các hộ nghèo, hộ cận nghèo trong quá
trình xây mới hoặc sửa chữa nhà ở đảm bảo tiến độ và chất lượng; lập biên bản
xác nhận hoàn thành theo giai đoạn và biên bản xác nhận hoàn thành công trình
đưa vào sử dụng (theo mẫu tại Phụ lục III và Phụ lục IV kèm theo Thông tư
số 01/2022/TT-BXD ngày 30/6/2022 của Bộ Xây dựng)
.

10.
Tiến độ thực hiện

Tổ
chức thực hiện hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo thuộc Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 theo quy định của Đề án
này trong 4 năm, từ 2022 đến năm 2025, cụ thể như sau:

– Năm
2022: Xây dựng Đề án và phê duyệt đề án.

– Năm
2023: Thực hiện hỗ trợ khoảng 273 hộ (chiếm khoảng 30% số đối tượng).

– Năm
2024: Thực hiện hỗ trợ khoảng 364 hộ (chiếm khoảng 40% số đối tượng).

– Năm
2025: Thực hiện hỗ trợ khoảng 273 hộ (chiếm khoảng 30% số đối tượng); tổng kết,
đánh giá kết quả thực hiện chính sách.

Tổ
chức tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện Chính sách chậm nhất
sau 03 tháng kể từ ngày hoàn thành việc hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo.

11.
Tiến độ huy động vốn hàng năm

a)
Năm 2023: Tổng số vốn cần có để thực hiện:

27.172,50

triệu đồng.

– Vốn ngân sách Trung ương:

9.000,0

triệu đồng;

– Vốn ngân sách địa phương:

900,0

triệu đồng;

– Vốn huy động khác:

17.272,50

triệu đồng.

b) Năm 2024: Tổng số vốn cần
có để thực hiện:

36.230,0

triệu đồng.

– Vốn ngân sách Trung ương:

12.000,0

triệu đồng;

– Vốn ngân sách địa phương:

1.200,0

triệu đồng;

– Vốn huy động khác:

23.030,0

triệu đồng.

c) Năm 2025: Tổng số vốn cần
có để thực hiện:

27.172,50

triệu đồng.

– Vốn ngân sách Trung ương:

9.000,0

triệu đồng;

– Vốn ngân sách địa phương:

900,0

triệu đồng;

– Vốn huy động khác:

17.272,50

triệu đồng.

12. Tổ chức thực hiện

12.1. Sở Xây dựng

– Là cơ quan thường trực, chỉ
đạo việc thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa
bàn các huyện nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai
đoạn 2021-2025 theo quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2021-2025.

– Chủ trì, phối hợp với các Sở,
ngành: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Lao động – Thương binh và Xã hội, Chi nhánh
Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh tổng hợp, theo dõi đôn đốc, kiểm tra, báo cáo
tình hình thực hiện, hàng quý cho UBND tỉnh và Bộ Xây dựng theo quy định; giải
quyết những vướng mắc thuộc thẩm quyền hoặc trình Chủ tịch UBND tỉnh xem xét,
giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền.

– Chủ trì, cung cấp thiết kế
mẫu đã được thẩm định và phê duyệt làm cơ sở cho địa phương, người dân lựa chọn
(kèm theo dự toán kinh phí, dự trù vật tư chủ yếu).

– Sau khi kết thúc chương trình,
tham mưu UBND tỉnh tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm, báo cáo Bộ Xây dựng và Thủ
tướng Chính phủ về kết quả triển khai thực hiện chương trình trên địa bàn tỉnh.

12.2. Sở Tài chính

– Chủ trì, phối hợp với các Sở,
ban, ngành, liên quan tham mưu UBND tỉnh phương án phân bổ vốn sự nghiệp nguồn
ngân sách trung ương hàng năm trên cơ sở đề xuất của Sở Lao động – Thương binh
và Xã hội đảm bảo theo đúng quy định.

– Tham mưu UBND tỉnh bố trí vốn
đối ứng ngân sách địa phương (phần vốn sự nghiệp) thực hiện Đề án theo phân cấp
ngân sách.

– Chủ trì hướng dẫn, quản lý,
sử dụng, thanh quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Đề án theo quy
định của Luật NSNN và các văn bản pháp luật liên quan.

12.3. Sở Kế hoạch và Đầu tư

Phối hợp với Sở Tài chính tổng
hợp kế hoạch, cân đối và bố trí vốn có mục tiêu cho các địa phương trong kế
hoạch và dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm báo cáo cấp có thẩm quyền phê
duyệt.

12.4. Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội

– Phối hợp với các sở, ngành
liên quan và UBND các huyện tổ chức triển khai, thực hiện Chương trình theo quy
định.

– Hướng dẫn các địa phương rà
soát, bình xét, lập danh sách điều chỉnh, bổ sung các hộ nghèo, hộ cận nghèo
được hỗ trợ, tổng hợp số liệu gửi Sở Xây dựng theo quy định.

12.5. UBND huyện Đakrông

– Kiện toàn Ban chỉ đạo thực
hiện chính sách giảm nghèo cấp huyện để chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc việc thực
hiện Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương
trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.

– Tổng hợp và phê duyệt theo
thẩm quyền danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo thuộc chương trình mục tiêu quốc
gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được hỗ trợ xây dựng nhà ở trên địa
bàn (nếu có điều chỉnh).

– Trực tiếp tổ chức thực hiện
chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở trên địa bàn đúng quy định, phù hợp
với điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảo việc hỗ trợ đúng đối tượng, đúng
mục đích và có hiệu quả.

– Thường xuyên kiểm tra, giám
sát việc thực hiện, đảm bảo chính đến được từng hộ nghèo; không để xảy ra thất thoát,
tiêu cực; đảm bảo các hộ nghèo có nhà ở thuộc chương trình mục tiêu quốc gia
giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 khi được hỗ trợ theo quy định; có biện
pháp phòng ngừa việc chuyển nhượng nhà ở trái quy định.

– Tổ chức giới thiệu rộng rãi
các mẫu nhà ở điển hình phù hợp với phong tục, tập quán của từng địa phương
đến nhân dân địa phương được chọn.

– Tích cực tuyên truyền, vận
động các tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn hỗ trợ thực hiện (từ các nguồn như:
đóng góp của hộ gia đình; huy động từ cộng đồng, dòng họ; quỹ vì người nghèo;
các nguồn đóng góp hỗ trợ tự nguyện khác). Căn cứ số vốn được UBND tỉnh phân bổ
và số vốn huy động được từ các nguồn khác, UBND huyện phân bổ vốn cho các xã.

– 03 tháng một lần (trước ngày
25 tháng thứ 3) có báo cáo hàng quý (theo mẫu tại Phụ lục số V ban hành kèm theo
Thông tư số 01/2022/TT-BXD ngày 30/6/2022 của Bộ Xây dựng)
và trước ngày 25
tháng 12 hàng năm có báo cáo định kỳ mỗi năm một lần (theo mẫu tại Phụ lục
số VI ban hành kèm theo Thông tư số
01/2022/TT-BXD ngày 30/6/2022 của Bộ
Xây dựng)
, kết quả thực hiện gửi Sở Xây dựng để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh,
Ủy ban MTTQVN tỉnh và Bộ Xây dựng.

12.7. UBND cấp xã

– Rà soát, thẩm định, tổng hợp
bổ sung, điều chỉnh danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ xây mới hoặc
sửa chữa nhà ở trình UBND cấp huyện tổng hợp, phê duyệt theo quy định (nếu có).

– Kiện toàn Ban giảm nghèo cấp
xã để thực hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

– Căn cứ số vốn được UBND, Ủy
ban MTTQVN huyện phân bổ, phối hợp với Ủy ban MTTQVN xã tổ chức cấp phát kinh
phí đến từng hộ gia đình theo danh sách đối tượng đã được phê duyệt.

– Nghiệm thu, xác nhận khối
lượng xây dựng hoàn thành theo giai đoạn (hoàn thành phần móng đối với những hộ
nghèo, hộ cận nghèo xây dựng mới hoặc hoàn thành từ 30% khối lượng công việc xây
dựng trở lên đối với những hộ nghèo, hộ cận nghèo thực hiện sửa chữa nhà ở hiện
có) và xác nhận hoàn thành công trình đưa vào sử dụng để làm cơ sở giải ngân
vốn hỗ trợ theo quy định.

– Định kỳ có báo cáo quý (theo
mẫu tại Phụ lục V của Thông tư số
01/2022/TT-BXD ngày 30/6/2022 của Bộ
Xây dựng)
trước ngày 10 tháng cuối quý và báo cáo năm (theo mẫu tại Phụ
lục VI của Thông tư số 01/2022/TT-BXD ngày
30/6/2022 của Bộ Xây dựng) trước
ngày 05 tháng 12 hàng năm kết quả thực hiện gửi UBND huyện để tổng hợp báo UBND
tỉnh và Sở Xây dựng.

– Theo dõi, giám sát và giúp đỡ
các hộ gia đình trong quá trình xây dựng nhà ở mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà
ở hiện có; lập biên bản xác nhận hoàn thành theo giai đoạn và biên bản xác nhân
hoàn thành công trình đưa vào sử dụng (theo mẫu tại Phụ lục III và Phụ lục IV
kèm theo Thông tư số 01/2022/TT-BXD ngày
30/6/2022 của Bộ Xây dựng); vận
động các tổ chức, đoàn thể như: Mặt trận Tổ quốc; Hội phụ nữ; Hội Nông dân; Hội
Cựu chiến binh; Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh giúp đỡ các hộ gia đình
nghèo, có hoàn cảnh khó khăn xây dựng nhà ở; phát huy cao nhất khả năng huy
động nguồn lực và cộng đồng và hộ gia đình, tận dụng, khai thác vật liệu tại
chỗ như cát, đá, sỏi, gỗ để giảm giá thành xây dựng nhà ở.

– Chỉ đạo, giám sát để các hộ
gia đình sử dụng vốn hỗ trợ làm nhà ở đúng mục đích, đảm bảo nhà ở phải được
xây dựng hoàn chỉnh để đưa vào sử dụng.

12.8. Các đoàn thể chính
trị – xã hội cấp tỉnh: gồm Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân,
Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn Lao động tỉnh

Hướng dẫn đoàn thể các cấp
tuyên truyền, phổ biến chính sách, tham gia vận động các tổ chức, cơ quan, đơn
vị, doanh nghiệp và cộng đồng ủng hộ bằng tiền, vật liệu xây dựng hoặc ngày
công lao động để giúp đỡ các hộ nghèo, hộ cận nghèo xây dựng nhà ở; chỉ đạo
đoàn thể các cấp tham gia xây dựng nhà ở cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo; phối
hợp với UBND cấp xã tổ chức xây dựng nhà ở cho các đối tượng có hoàn cảnh khó
khăn (già cả, neo đơn, tàn tật…).

12.9. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tỉnh

– Tham gia vận động các tầng
lớp nhân dân, tích cực hưởng ứng và có hành động thiết thực thực hiện tốt chủ trương
của Nhà nước về hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo xây dựng nhà ở.

– Lồng ghép nguồn vốn từ Đề án
Huy động nguồn lực thực hiện chính sách hỗ trợ xây mới nhà ở cho hộ nghèo trên
địa bàn tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2022-2026 được UBND tỉnh và Ủy ban MTTQVN ban
hành tại Văn bản số 197/QĐ-UBND- MTTQ ngày 06/10/2022.

– Vận động các cơ quan, tổ
chức, đơn vị, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong và ngoài tỉnh, các tổ chức
phi chính phủ ủng hộ, giúp đỡ, hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở.

– Là cơ quan đầu mối tiếp nhận
các nguồn đóng góp, ủng hộ, giúp đỡ của các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp, cá nhân trong và ngoài tỉnh để phân bổ cho các địa phương trên địa bàn
tỉnh, giải ngân hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở.

– Phối hợp Sở Xây dựng và các
sở, ban ngành liên quan trong việc phân bổ nguồn vốn do Ủy ban MTTQVN tỉnh đã
huy động được (bao gồm vốn bằng tiền hoặc hiện vật) cho các địa phương đảm bảo
đúng quy định.

– Hướng dẫn Ủy ban MTTQVN – Ban
Vận động Quỹ “Vì người nghèo” các cấp trên địa bàn tỉnh phối hợp cùng với UBND
cùng cấp trong xét chọn đối tượng hỗ trợ xây nhà ở, triển khai việc giải ngân
nguồn Quỹ “Vì người nghèo” được phân bổ và huy động cho hộ nghèo, hộ cận nghèo
xây dựng nhà ở, giám sát tiến độ triển khai xây dựng nhà ở, hoàn thiện hồ sơ
quyết toán theo quy định của Nhà nước. Phối hợp với UBND cùng cấp báo cáo kết
quả giải ngân, hỗ trợ theo từng quý, năm cho cấp trên đúng quy định.

V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Đề án hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận
nghèo trên địa bàn huyện nghèo tỉnh Quảng Trị thuộc Chương trình mục tiêu quốc
gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 xây dựng theo Quyết định số
90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ, từng bước đưa nông thôn tiến
gần với thành thị, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo đã khẳng định Đảng và Nhà
nước luôn dành nhiều chính sách ưu tiên về nhà ở cho người dân, đặc biệt là
người nghèo, không phân biệt ở nông thôn hay thành thị; đảm bảo quyền có chỗ ở
và chỗ an toàn cho người dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và Luật Nhà ở số
65/2014/QH13 ngày 25/11/2014; góp phần quan trọng trong việc hoàn thành mục tiêu
Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2161/QĐ-TTg năm 2021; khẳng
định quan điểm mới về phát triển nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và
của chính người dân.

Chương trình thực hiện trong
giai đoạn hiện nay là phù hợp với tình hình thực tế và phát triển kinh tế – xã
hội của tỉnh nói chung và của huyện Đakrông nói riêng, giải quyết tốt các chính
sách xã hội về xóa đói giảm nghèo, góp phần ổn định chỗ ở và cuộc sống của người
dân. Nhờ đó, một bộ phận của người dân ở cả đô thị và nông thôn được cải thiện
về nhà ở, có cuộc sống tốt hơn, đáp ứng được nguyện vọng và mong muốn của nhân
dân.

2. Kiến nghị với Bộ, ngành
Trung ương

Kính đề nghị Bộ Xây dựng, Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tổng hợp
báo cáo Thủ tướng Chính phủ phân bổ đầy đủ và kịp thời nguồn kinh phí hỗ trợ để
tỉnh Quảng Trị có cơ sở thực hiện chính sách đúng tiến độ đề ra./.

 

TỔNG
HỢP SỐ LƯỢNG HỘ NGHÈO, HỘ CẦN NGHÈO CẦN HỖ TRỢ VỀ NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHÈO
TỈNH QUẢNG TRỊ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG GIAI
ĐOẠN 2021-2025
(Kèm theo Quyết định số 2921/QĐ-UBND ngày 14/11/2022 của UBND tỉnh Quảng Trị)

TỔNG
HỢP NHU CẦU NGUỒN VỐN THỰC HIỆN ĐỀ ÁN HỖ TRỢ NHÀ Ở HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN NGHÈO TỈNH QUẢNG TRỊ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM
NGHÈO BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2021-2025
(Kèm theo Quyết định số 2921/QĐ-UBND ngày 14/11/2022 của UBND tỉnh Quảng Trị)

TỔNG
HỢP DANH SÁCH HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHÈO TỈNH QUẢNG TRỊ
THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2021-2025
(Kèm theo Quyết định số 2921/QĐ-UBND ngày 14/11/2022 của UBND tỉnh Quảng Trị)

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply

Itriip - Soạn thảo văn bản nhanh
Logo
Register New Account
Đăng nhập để theo dõi và nhận thưởng
Reset Password